Đường dây nóng: 84-28-35210484

Giảm phát thải khí nhà kính và cơ hội phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Thứ năm - 17/05/2018 09:01
Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển mạnh mẽ các nguồn điện tái tạo trong Chiến lược phát triển lực quốc gia giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2050. 

 

 

 
Đó là khẳng định của các chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực năng lượng tại Hội thảo Phương pháp luận xây dựng kế hoạch thực hiện “Đóng góp quốc gia tự xác định” lĩnh vực năng lượng (NDC) do Bộ Công Thương tổ chức mới đây. Cùng với tăng sản xuất điện tái tạo, giảm sản xuất điện từ nhiệt điện chạy than gắn với tiết kiệm năng lượng sẽ là các giải pháp tổng hòa giúp hệ thống nguồn năng lượng của Việt Nam “xanh hơn”, qua đó giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (COP-21). 
 
Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP-21) tổ chức tại Paris (Pháp) vào tháng 9/2015, Việt Nam đã cam kết cắt giảm phát thải 8% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường vào năm 2030 bằng nguồn lực trong nước (tương ứng khoảng 62,7 triệu tấn CO2 tương đương). Điều này được thể hiện trong báo cáo “Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định” (hay còn gọi là NDCs). 
 
Báo cáo chỉ rõ, lượng phát thải khí nhà kính của VN năm 2010 là 225,6 triệu tấn CO2 tương đương. Theo dự báo, đến năm 2030 tổng phát thải của Việt Nam sẽ tăng lên mức 787 triệu tấn, đồng nghĩa tổng phát thải tăng khoảng 3,5 lần trong giai đoạn từ 2010 đến 2030. Ông Nguyễn Quốc Khánh - chuyên gia năng lượng lưu ý nếu không có sự kiểm soát hữu hiệu thì lượng phát thải từ lĩnh vực năng lượng sẽ tăng rất cao, tới 4,8 lần trong giai đoạn 2010-2030. 
 
"Sự chuyển dịch về phát thải trong cơ cấu phát thải này là sự chuyển dịch rất lớn. Theo Thông báo quốc gia, số liệu kiểm kê được thực hiện cho năm 2000 thì tỷ trọng phát thải từ lĩnh vực năng lượng chỉ chiếm 37%, và đến năm 2010 tăng lên 63%, đến năm 2030 là tới 86%. Như vậy có thể nói rằng phát thải của lĩnh vực năng lượng đóng một vai trò rất quan trọng. Ngành công thương là đơn vị quản lý nhà nước về lĩnh vực năng lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong câu chuyện về thực hiện các cam kết cuả chúng ta về phát thải khí nhà kính"- ông Khánh cho biết.
 
Ngành công thương xác định 3 mảng lớn đóng góp vào việc giảm phát thải khí nhà kính, đó là việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) và các quá trình công nghiệp, trong đó, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được đặt ra như một giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài, đem lại hiệu quả kinh tế trực tiếp đối với cả Nhà nước và các đối tượng sử dụng, tiêu dùng năng lượng. Vì vậy sau khi kết thúc giai đoạn 1 của Chương trình mục tiêu quốc gia về TKNL, Bộ Công Thương đang dự thảo một chương trình mới cho giai đoạn đến năm 2030 gắn với chương trình quốc gia về thực hiện TKNL tại Việt Nam. Ông Hoàng Văn Tâm - Phó chánh văn phòng Biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh (thuộc Ban chỉ đạo về biến đổi khí hậu -Bộ Công Thương) cho biết, bộ này đang nỗ lực để hoàn thành dự thảo này trong năm 2018, với những mục tiêu hết sức cụ thể.
 
"Trước mắt chúng tôi sẽ tập trung vào các ngành, lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng. Và đối với những ngành này thì chúng tôi cũng đã có những thông tư quy định về định mức tiêu hao năng lượng tối thiểu cũng như hiệu suất năng lượng đối với 1 số ngành như thép, hóa chất…đặc biệt là các đối tượng sử dụng năng lượng trọng điểm. Bên cạnh nguồn lực của quốc gia thì chúng tôi cũng tìm các nguồn tài trợ của quốc tế"- ông Tâm thông tin.
 
Các chuyên gia năng lượng cho rằng, nếu nhận được sự hỗ trợ quốc tế từ các hợp tác song phương và đa phương, Việt Nam có thể giảm tới 25% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường vào năm 2030. Theo đó, cần tập trung vào các giải pháp năng lượng bền vững. Cụ thể đối với Việt Nam phải cùng lúc giải quyết được 3 việc lớn, đó là tăng sản xuất điện tái tạo, giảm nhiệt điện than và triệt để sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 
 
Từ kinh nghiệm thực tế của Châu Âu trong việc thực hiện các cam kết về phát thải, GS. TS Trần Thục - Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn Quốc gia về biến đổi khí hậu (BĐKH) cho rằng, việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính chủ yếu từ các doanh nghiệp, khác với việc thích ứng chủ yếu là sử dụng nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Nhà nước không thể đầu tư tiền để giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Việc đó là của doanh nghiệp. Bộ Công Thương với chức năng là bộ quản lý Nhà nước cần đưa ra những chính sách về giảm nhẹ phát thải, không nhất thiết phải đến từng nhà máy và đưa ra những con số cụ thể cho việc nhà máy đó phải phát thải bao nhiêu. GS.TS Trần Thục khuyến cáo, chúng ta không nên đi sâu vào từng nhà máy bởi sẽ bị sa lầy vào đống số liệu.  
 
Cũng theo GS. TS Trần Thục - Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn Quốc gia về biến đổi khí hậu, việc cập nhật báo cáo “Đóng góp do quốc gia tự quyết định” (NDC) không chỉ thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện tốt thỏa thuận Paris, mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng ít phát thải, chống chịu cao trước tác động của biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Thời đại công nghệ số, thế giới cập nhật các thông tin và tính toán rất dễ dàng việc thực hiện của Việt Nam, vì vậy cùng với việc làm thật - một cách khoa học, từ phương pháp xác định mức giảm, đến cách thức, giải pháp thực hiện… thì công khai, minh bạch mọi hoạt động này là yếu tố quan trọng nhất quyết định kết quả thực thi các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
 
Thực hiện chính sách năng lượng xanh của Việt Nam cũng như thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (COP-21), nhất là kể từ khi Việt Nam đệ trình Báo cáo “Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định” (NDC1 - vào tháng 9/2015), một số chính sách liên quan đến phía cung năng lượng đã được điều chỉnh và ban hành. Theo tính toán của ông Nguyễn Đức Cường, Chuyên gia cao cấp Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương, nhu cầu sản xuất điện đã được điều chỉnh giảm xuống 21% vào năm 2030 (từ 695 tỷ kWh xuống 572 tỷ kWh). Nhu cầu than nói chung đến năm 2030 giảm 40% (từ 220,3 triệu tấn xuống còn 156.6 triệu tấn); than cho sản xuất điện cũng giảm khoảng 38% (giảm từ 181,3 triệu tấn xuống còn 131,1 triệu tấn). Cùng với đó, điện từ năng lượng tái tạo (NLTT) được tăng lên khá cao, tăng từ 41 tỷ kWh lên 61 tỷ kWh, tương ứng tăng khoảng 33% vào năm 2030. 
 
Nhờ các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển điện tái tạo được ban hành, một số nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời (ĐMT) phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, Bộ Công Thương đã phê duyệt trên 70 dự án ĐMT có quy mô công suất đến 50MW (với tổng công suất đặt trên 3.000MW) chưa kể các quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho các dự án điện mặt trời có quy mô sông suất trên 50MW. Theo dự kiến, khoảng 4000MW sẽ được đưa vào vận hành trước tháng 6/2019, tức là vượt hơn rất nhiều so với kế hoạch  đạt 850MW vào năm 2020 (theo Quy hoạch điện VII). Tuy  nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn để có thể đạt được 27.000MW nguồn điện từ NLTT trong tổng công suất nguồn điện của Việt Nam vào năm 2030 cũng như có thể tiến tới đạt khoảng 30% công suất NLTT vào năm 2050. 

Tác giả bài viết: Nguyên Long/Icon.com.vn

Nguồn tin: Trang thông tin điện tử ngành điện (http://icon.com.vn)

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây