Đường dây nóng: 84-28-35210484

Cách mạng Tháng Tám - đỉnh cao của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ bảy - 18/08/2018 02:58
Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân dân ta đã đập tan ách phát xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Cách mạng Tháng Tám - đỉnh cao của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

1. Bối cảnh nước ta trước năm 1930

Giữa thế kỷ XIX, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn, song chế độ phong kiến đang lâm vào khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng, trở thành mục tiêu dòm ngó, xâm lấn của Tư bản phương Tây và Pháp, manh nha bằng con đường buôn bán và truyền đạo. Sau đó, Pháp đã tìm mọi cách xâm chiếm Việt Nam để tranh giành ảnh hưởng với Anh ở khu vực Châu Á.
 
image 20180818140520 2
Thực dân Pháp xâm lược nước ta - năm 1858

Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn. Đến năm 1884, thực dân Pháp đã xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ nước ta và thiết lập bộ máy cai trị, bắt đầu thời kỳ Pháp thuộc trong lịch sử Việt Nam.

Chúng đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo, chia cắt đất nước ta thành 3 kỳ để trị, hòng xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược, đời sống nhân dân khốn cùng. Đại bộ phận nhân dân lúc ấy là nông dân, vốn đã khốn khó vì thuế khóa, địa tô, phu phen tạp dịch, nạn cướp đất lập đồn điền, nhà máy của thực dân Pháp. Mất đất, không còn tư liệu sản xuất, họ đã tìm đến các công trường, hầm mỏ và đồn điền xin việc trở thành người công nhân, những làm thuê bị bóc lột một cách thậm tệ trên chính mảnh đất quê hương mình.
 
image 20180818140520 3
Nhân dân khắp nơi trong cả nước đã nổi dậy với nhiều cuộc bạo động, khởi nghĩa, lập căn cứ chống Pháp do các sĩ phu yêu nước, nông dân lãnh đạo. Nhưng do khủng hoảng về đường lối cứu nước, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến hay khuynh hướng dân chủ tư sản lần lượt thất bại và bị thực dân Pháp dìm trong biển máu.
image 20180818140520 4
Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) do người anh hùng Hoàng Hoa Thám lãnh đạo tuy gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nhưng cuối cùng cũng thất bại

Đầu thế kỷ XX, liên tiếp diễn ra nhiều cuộc bãi công của nhân nhân, viên chức, học sinh… lôi cuốn và giác ngộ được một lực lượng lớn công nhân, cùng với sự tham gia của nông dân, tiểu tư sản, trí thức. Kéo theo phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mang tính thống nhất và chính trị to lớn hơn, liên kết và tập hợp được nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều ngành nghề, địa phương và phát triển, kết thành làn sóng cách mạng dân tộc, dân chủ trên phạm vi cả nước; làm tiền đề cho các tổ chức cách mạng ở Việt Nam nối tiếp nhau ra đời và phát triển.
 
image 20180818140520 5
Tác phẩm nhấn mạnh tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng “giải phóng dân tộc”
 
Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức cách mạng của Việt Nam, hoạt động chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc, với tôn chỉ phụ trách tổ chức và lĩnh đạo cuộc cách mạng ở Việt Nam, phấn đấu thu phục đại bộ phận thợ thuyền, dân cày và binh lính, lãnh đạo quần chúng lao khổ bị áp bức liên hiệp với giai cấp vô sản thế giới để đánh đổ đế quốc Pháp, chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản, thành lập chính quyền của nhân dân; tham gia vào cuộc cách mạng vô sản thế giới chống chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
 
image 20180818140520 6
Nguyễn Ái Quốc giảng bài tại lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc

2. Đảng cộng sản ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Cuối năm 1928, đầu năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu phải thành lập một Đảng Cộng sản để tổ chức và lãnh đạo phong trào.

Tháng 3/1929, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ra đời thay cho Hội Việt Nam Cách mạnh Thanh niên. Tháng 6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập tại Bắc kỳ. Tháng 8/1929, An Nam Cộng sản Đảng tại Nam kỳ, và tháng 9/1929 Đông Dương Cộng sản liên đoàn được thành lập tại Trung kỳ.
 
image 20180818140520 7
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - năm 1930

Từ ngày 06/01 đến 08/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, với cương lĩnh chính trị là cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩ Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, mang tính dân tộc và tính giai cấp sâu sắc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển mạnh, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh (bùng nổ từ tháng 5, nhưng phát triển đến đỉnh cao ở Nghệ An, Hà Tĩnh vào các tháng 9, 10 và kéo dài sang đầu năm 1931). Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh phải làm cho nông dân hiểu rõ: Cần tiến hành kết hợp đấu tranh kinh tế với chính trị, làm cách mạng ruộng đất “chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương”, đồng thời yêu cầu phải tăng cường phát triển lực lượng của Đảng cho đều khắp cả Bắc - Trung - Nam, chú trọng phát triển các tổ chức Công hội, Nông hội, Mặt trận...
 
Phong trào cách mạng 1930 - 1931:
  • Từ tháng 2 đến 4/1930, ba cuộc bãi công tiêu biểu của công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, công nhân nhà máy sợi Nam Định và công nhân nhà máy Cưa và nhà máy Diêm Bến Thuỷ.
  • Trong nửa sau năm 1930, phong trào cách mạng tiếp tục nổ ra ở nhiều nơi: Bãi công của công nhân nổ ra ở hầu khắp các cơ sở kinh tế của tư bản Pháp, cùng với các phong trào nông dân bùng nổ dữ dội chưa từng thấy: Cuộc biểu tình của nông dân Tiền Hải (Thái Bình), Duy Tiên (Hà Nam), Đức Phổ, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), Bà Chiểu (Sài Gòn - Chợ Lớn)... Ở Nghệ An và Hà Tĩnh, phong trào nông dân tiếp tục lên cao với những cuộc biểu tình lớn có vũ trang tự vệ, kéo đến huyện lỵ, tỉnh lỵ đòi giảm sưu thuế của nông dân Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình ngày 12/9/1930 của nông dân Hưng Nguyên (Nghệ An) kéo đến huyện lỵ, phá nhà lao, đốt huyện đường, vậy lính khố xanh, ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Bến Thuỷ.
 
image 20180818140520 8
Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh
  • Đỉnh cao nhất là cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (bùng nổ từ tháng 5, nhưng phát triển đến đỉnh cao ở Nghệ An, Hà Tĩnh vào các tháng 9, 10 và kéo dài sang đầu năm 1931): Trong các tháng 9 và 10/1930, trước khí thế cách mạng của quần chúng, bộ máy chính quyền thực dân ở nhiều nơi tan rã. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, Ban Chấp hành Nông hội ở thôn, xã đứng ra quản lý mọi mặt đời sống xã hội ở nông thôn, thực hiện chuyên chính với kẻ thù, dân chủ với quần chúng lao động, làm chức năng, nhiệm vụ của một chính quyền nhà nước dưới hình thức các uỷ ban tự quản theo kiểu Xô Viết - một chính quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân: Thực hiện rộng rãi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân; quần chúng được tham gia các đoàn thể, tự do hội họp; các đội tự vệ đỏ, tòa án nhân dân được thành lập. Chia ruộng đất công, tiền, lúa công cho dân cày nghèo, bãi bỏ các thứ thuế vô lý; chú trọng đắp đê phòng lụt, tư sửa cầu cống, đường giao thông; tổ chức giúp đỡ nhau sản xuất. Mở các lớp dạy chữ quốc ngữ, xóa bỏ các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống mới…
Phong trào dân chủ 1936 - 1939:
  • Phong trào đấu tranh tự do, đòi dân sinh, dân chủ: Từ giữa những năm 1936 được tin Quốc hội Pháp cử phái đoàn điều tra tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương vận động các tầng lớp nhân dân hội họp, thảo ra bản “dân nguyện” để gửi tới phái đoàn, tiến tới triệu tập Đông Dương đại hội vào tháng 8/1936. Tranh thủ sự kiện Godart sang điều tra tình hình và Brévé nhận chức toàn quyền Đông Dương, Đảng tổ chức quần chúng mít-tinh, đón rước, biểu dương lực lượng, đưa yêu sách đòi quyền dân sinh, dân chủ. Trong những năm 1937 - 1939, các cuộc mít tinh, biểu tình của nhân dân diễn ra sôi nổi. Nhiều hình thức tổ chức quần chúng ra đời như Hội cứu tế bình dân, Hội truyền bá Quốc ngữ. Đặc biệt là ngày 01/5/1938, lần đầu tiên trong ngày quốc tế lao động nhiều cuộc mít tinh được tổ chức ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều nơi khác, thu hút đông đảo quần chúng tham gia.
  • Phong trào đấu tranh nghị trường: Đảng Cộng sản Đông Dương vận động đưa người của Mặt trận Dân chủ Đông Dương ra ứng cử vào các cơ quan: Viện Dân biểu Trung kỳ (1937), Viện Dân biểu Bắc Kì, Hội đồng Kinh tế lý tài Đông Dương (1938) và Hội đồng Quản hạt Nam kỳ (1939). Mục đích: Mở rộng lực lượng của Mặt trận Dân chủ và vạch trần chính sách phản động của thực dân và tay sai, bênh vực quyền lợi của đa số quần chúng nhân dân.
 
image 20180818140520 9
Một số tờ báo tiêu biểu của phong trào dân chủ 1936 - 1939
  • Phong trào đấu tranh trên lĩnh vực báo chí: Đảng Cộng sản Đông Dương đã xuất bản nhiều tờ báo công khai: Tiền phong, Dân chúng, Lao động, Tin tức… tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Nhiều tác phẩm văn học hiện thực phê phán được xuất bản: Tắt đèn, Bước đường cùng… Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực báo chí giúp cho quần chúng nhân dân được giác ngộ về đường lối cách mạng.
Phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945:
 
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng. Ngày 01/9/1939, phát xít Đức tiến công Ba Lan. Hai ngày sau, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Tháng 6/1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Tháng 6/1941, Đức tấn công Liên Xô. Ở Châu Á - Thái Bình Dương, Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát biên giới Việt - Trung. Tháng 9/1940, Nhật vào Đông Dương.
 
image 20180818140520 10
Quân nhật tiến vào Hải Phòng ngày 24/11/1940

Ở Đông Dương, các thế lực phản động thuộc địa ngóc đầu dậy, thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ; thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật và cấu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm cho nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai ngày càng gay gắt. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra cấp thiết.
 
Chủ trương của Đảng ta:
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 11/1939):
  • Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công - nông - binh bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa.
  • Chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, bất hợp pháp.
  • Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc chống đế quốc.
  • Đánh dấu sự chuyển hướng quan trọng, dương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đưa nhân dân bước vào giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941):
  • Giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh là nhiệm vụ “bức thiết nhất”; tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”, chỉ thực hiện khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công.
  • Quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng; Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng; Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời.
  • Đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; chỉ rõ một cuộc tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ; đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa.

3. Chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
Trên cơ sở lực lượng cách mạng được nuôi dưỡng từ trước, bước vào giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước 1939 - 1945, việc chuẩn bị lực lượng mọi mặt được đẩy mạnh.
 
Chuẩn bị lực lượng chính trị:
  • Gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Việt Minh (bao gồm các đoàn thể quần chúng mang tên “cứu quốc”). Chương trình của Việt Minh đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, nên phong trào Việt Minh ngày càng phát triển mạnh. Cao Bằng là nơi thí điểm cuộc vận động xây dựng các hội “Cứu quốc” trong mặt trận Việt Minh. Đến năm 1942 khắp các châu ở Cao Bằng đều có Hội cứu quốc trong đó có 3 châu “hoàn toàn” (Hoà An, Hà Quảng và Nguyên Bình). Trên cơ sở đó, Uỷ ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Uỷ ban Việt Minh lâm thời Liên tỉnh Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn được thành lập. Bắc Sơn - Võ Nhai cũng là một trung tâm chuẩn bị khởi nghĩa. Sự ra đời và hoạt động của lực lượng vũ trang Bắc Sơn làm cho các tổ chức cứu quốc được xây dựng rộng khắp.
  • Tháng 2/1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (Đông Anh, Phúc Yên), vạch ra kế hoạch cụ thể về công việc chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang. Ở hầu khắp các vùng nông thôn và thành thị, các đoàn thể Việt Minh, hội Cứu quốc được xây dựng và củng cố.
  • Năm 1943 bản Đề cương văn hoá Việt Nam ra đời. Năm 1944, Đảng dân chủ Việt Nam và Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam được thành lập, đứng trong hàng ngũ Việt Minh.
  • Ngoài ra, Đảng cũng chú trọng công tác vận động binh lính người Việt trong quân đội Pháp, những ngoại kiều ở Đông Dương chống phát xít.
  • Báo chí của Đảng và của mặt trận Việt Minh đã góp phần vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh.
  • Lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng đông đảo nhất, một lực lượng cơ bản, giữ vai trò quyết định trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Việt Minh là nơi tổ chức, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng.
Chuẩn bị lực lượng vũ trang:
  • Cùng với quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, Đảng từng bước chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang: Sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (11/1940), lực lượng vũ trang Bắc Sơn được duy trì để làm vốn quân sự cho cách mạng. Bước sang năm 1941 những đội du kích ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội cứu quốc quân I (14/02/1941). Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 7/1941 đến tháng 2/1942). Ngày 15/9/1941, Trung đội cứu quốc quân II ra đời. Ở Cao Bằng, trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh, các đội tự vệ cứu quốc ra đời. Cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc chỉ thị thành lập đội tự vệ gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. Người biên soạn nhiều tài liệu để huấn luyện cán bộ quân sự như Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Tàu…
  • Ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ba ngày sau, đội đánh thắng hai trận liên tiếp ở Phai Khắt và Nà Ngần. Tháng 4/1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ quyết định thống nhất lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng bán vũ trang và xây dựng 7 chiến khu trong cả nước. Ngày 15/5/1945, Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân.
  • Lực lượng bán vũ trang cũng được xây dựng rộng khắp, ở cả nông thôn và thành thị, gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu.
  • Lực lượng vũ trang tuy còn ít về số lượng, thiếu thốn về trang bị, non yếu về trình độ tác chiến, nhưng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động vũ trang tuyên truyền, góp phần phát triển lực lượng chính trị; tiến công quân sự ở một số nơi gây thanh thế cho cách mạng, đồng thời là lực lượng xung kích, lực lượng nòng cốt, hỗ trợ quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.
  • Cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều là cơ sở của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong tổng khởi nghĩa toàn dân, đập tan chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.
Xây dựng căn cứ địa:
  • Để tiến hành khởi nghĩa phải xây dựng căn cứ địa. Đó là nơi giải quyết vấn đề tiềm lực của cách mạng.
  • Năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Vùng Bắc Sơn - Võ Nhai được xây dựng thành một trung tâm căn cứ địa, gắn liền với sự ra đơì và hoạt động của lực lượng vũ trang Bắc Sơn.
  • Năm 1941, Nguyển Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chọn Cao Bằng làm nơi đầu tiên để xây dựng căn cứ địa. Từ đó, căn cứ địa cách mạng ngày càng mở rộng, phát triển thành căn cứ Cao - Bắc - Lạng.
  • Năm 1943, Uỷ ban Việt Minh Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng lập ra 19 ban “xung phong Nam tiến” để phát triển lực lượng xuống các tỉnh miền xuôi.
  • Trong những vùng căn cứ cách mạng diễn ra các hoạt động sản xuất, xây dựng, chiến đấu, hoạt động của các đoàn thể cứu quốc và lực lượng vũ trang. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng các cấp.
  • Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tuyên Quang. Người chọn Tân Trào làm trung tâm chỉ đạo cách mạng.
  • Tháng 6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đó là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới trong tương lai. Tân Trào là thủ đô Khu giải phóng. Uỷ ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập.
  • Công cuộc chuẩn bị lực lượng được tiến hành chu đáo. Toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng đón chờ thời cơ vùng dậy Tổng khởi nghĩa.
 
4. Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
Bối cảnh:
  • Tháng 9/1940, Nhật vào Đông Dương, Pháp hoà hoãn với Nhật. Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, Hồng quân Liên Xô giải phóng các nước Đông Âu và tiến vào nước Đức. Quân Anh - Mỹ giải phóng nước Pháp, rồi tiếp tục tiến công vào Đức từ phía Tây. Ở mặt trận châu Á - Thái Bình Dương, quân Đồng minh phản công, giáng cho phát xít Nhật những đòn nặng nề. Sau khi Mỹ chiếm lại Philipin, đường biển của Nhật đi xuống các căn cứ ở phía Nam bị cắt đứt, chỉ còn đường bộ duy nhất qua Đông Dương. Vì thế Nhật cần độc chiếm Đông Dương bằng mọi giá.
  • Sau khi nước Pháp được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Đức, lực lượng Pháp ở Đông Dương ráo riết chuẩn bị, chờ quân Đồng minh vào đánh Nhật để khôi phục lại quyền thống trị của mình như trước khi Nhật vào Đông Dương.
  • Để trừ hậu hoạ bị đánh sau lưng và giữ Đông Dương làm cầu nối đi từ Trung Quốc xuống các căn cứ phía Nam, ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp, độc chiếm Đông Dương. Sự kiện đó tạo nên một cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Dương. Sau khi đảo chính thành công, Nhật thi hành một loạt biện pháp nhằm củng cố quyền thống trị ở Đông Dương.
  • Ngày 09/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Từ Sơn (Bắc Ninh) để đánh giá tình hình và đề ra chủ trương mới. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, xác định phát xít Nhật là kẻ thù chính; thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp - Nhật” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”; chủ trương “phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”, đồng thời sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa khi có đủ điều kiện.
Khởi nghĩa từng phần (tháng 3/1945 đến giữa tháng 8/1945):
  • Ở vùng rừng núi và trung du Bắc kỳ, chiến tranh du kích phát triển mạnh. Tại Cao - Bắc - Lạng, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị giải phóng hàng loạt châu, huyện, xã.
  • Ở Bắc kỳ, Trung kỳ, trước thực tế nạn đói diễn ra trầm trọng do chính sách cướp bóc của Pháp - Nhật, Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Phong trào thu hút hàng triệu người tham gia. Có nơi quần chúng đã giành được chính quyền. Làn sóng khởi nghĩa từng phần dâng lên ở nhiều nơi. Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Tiên Du (Bắc Ninh), Bần Yên Nhân (Hưng Yên)… Ở các thành phố, nhất là Hà Nội, Huế, Sài Gòn, hoạt động vũ trang truyên truyền, diệt ác trừ gian được đẩy mạnh, tạo điều kiện phát triển các đoàn thẻ cứu quốc và xây dựng lực lượng tự vệ cứu quốc. Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa (3/1945), thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ và xây dựng căn cứ Ba Tơ. Tù chính trị trong các nhà tù đế quốc đã đấu tranh đòi tự do hoặc nổi dậy phá trại giam, vượt ngục ra ngoài hoạt động.
  • Ở Nam kỳ, phong trào Việt Minh hoạt động mạnh nhất ở Mỹ Tho và Hậu Giang.
  • Báo chí cách mạng đều ra công khai và gây ảnh hưởng chính trị vang dội.

5. Tổng khởi tháng Tám năm 1945
Bối cảnh:
  • Đến năm 1945, Đảng ta đã có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng, thể hiện tập trung ở Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5/1941). Lực lượng cách mạng cũng được chuẩn bị chu đáo trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, được rèn luyện qua nhiều phong trào cách mạng. Đến tháng 8/1945, toàn Đảng, toàn dân đã sẵn sàng, chủ động, kiên quyết hi sinh phấn đấu giành độc lập tự do. Tầng lớp trung gian, khi Nhật đảo chính Pháp mới chỉ hoang mang, dao động, nhưng đến lúc này đã thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật, chán ngán những chính sách của Nhật, nên đã ngả hẳn về phía cách mạng.
  • Sau khi phát xít Đức bị tiêu diệt, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống các thành phố Hiroshima và Nagasaki. Ngày 09/8/1945, Hội đồng tối cao chiến tranh của Nhật họp bàn về các điều kiện đầu hàng theo Tuyên bố Potsdam. Ngày 14/8/1945, Hội đồng tối cao chiến tranh và Nội các Nhật Bản thông qua quyết định đầu hàng. Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Thời cơ cách mạng xuất hiện.
  • Tuy nhiên, một nguy cơ mới lại đến: Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật, những thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Vì vậy, việc giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh mà nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ.
  • Giữa năm 1945, khi cao trào kháng Nhật cứu nước đang diễn ra sôi nổi, chủ nghĩa phát xít tuyên bố đầu hàng các nước Đồng minh không điều kiện và lực lượng cách mạng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong cả nước, nhận thấy cơ hội ngàn năm có một cho nhân dân ta giải phóng dân tộc đang đến gần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải gấp rút triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân để thành lập Chính phủ lâm thời cách mạng của nước Việt Nam. Giữa tháng 8/1945, khi, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, đã khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịp thời.
  • Quốc dân đại hội cũng đã được tiến hành trong bối cảnh đó. Đại hội tiến hành trong khi lệnh Tổng khởi nghĩa vừa phát đi, cho nên phải họp khẩn trương, “chớp nhoáng” để các đại biểu có thể về cùng các chiến sĩ ở địa phương lãnh đạo khởi nghĩa.
  • Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
 
hoi nghi tan trao
Đại hội Quốc dân tại Đình Tân Trào ngày 16/8/1945 để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa
  • Từ ngày 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa. Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt minh, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
  • Trước giờ phút đấu tranh quyết liệt và khẩn trương, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng đã gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc: “...Hỡi đồng bào yêu quí! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ… Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.
Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền:
  • Từ ngày 14/8/1945, tuy chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương và vận dụng chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, một số cấp bộ Đảng và Việt Minh đã phát động tổng khởi nghĩa và giành được thắng lợi.
  • Chiều 16/8/1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, một đơn vị của Đội Việt Nam Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên.
  • Ngày 18/8/1945, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lỵ sớm nhất trong cả nước.
  • Ngày 19/8/1945, tại Hà Nội, hàng vạn nhân dân đánh chiếm cơ quan đầu não của địch như Phủ Khâm sai, trại Bảo an binh, Tòa Thị chính. Tối 19/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi.
 
image 20180818140520 11
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội tháng 8/1945 - Chiếm Phủ Khâm sai
  • Ngày 23/8, hàng vạn nhân dân biểu tình thị uy, chiếm công sở, chính quyền về tay nhân dân ở Huế và Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu...
  • Ngày 25/8, tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre...
  • Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền.
  • Khởi nghĩa thắng lợi ở 3 thành phố lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tác động đến các địa phương trong nước, quần chúng các tỉnh còn lại nối tiếp nhau khởi nghĩa. Hà Tiên và Đồng Nai Thượng là những nơi giành chính quyền muộn nhất (28/8).
  • Chiều 30/8 vua Bảo Địa thoái vị, triều đình phong kiến nhà Nguyễn hoàn toàn sụp đổ.

6. Thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945)
  • Ngày 25/8/1945, Chủ tich Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam từ Tân Trào về đến Hà Nội.
  • Ngày 28/8/1945, Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa.
 
image 20180818140520 12
Quảng trường Ba Đình, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
  • Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc “Tuyên ngôn độc lập”, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và cả thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập. Bản Tuyên ngôn đã khẳng định quyền độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm mà mọi dân tộc phải được hưởng trong đó có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do; “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà”; Khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân Việt nam quyết giữ nền độc lập tự do vừa giành được: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.
 
Thắng lợi vẻ vang của Cách mạnh Tháng Tám và lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc: Độc lập, tự do - Nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Nhân dân Việt Nam từ địa vị nô lệ, bước lên địa vị người làm chủ đất nước.
 
Trong thắng lợi ấy, Đảng ta đã nhạy bén trong nhân định và chớp đúng thời cơ, đó là: Chiến thắng của quân Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít tạo cơ hội thuận lợi cho nhân dân Việt Nam đứng lên khởi nghĩa; cùng với tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy, khi Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chí Minh đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo, tập hợp được lực lượng là mọi tầng lớp nhân dân; khi Đảng ta phất cao ngọn cờ cứu nước thì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà.
 
73 năm đã qua, nhưng thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn là một điều kỳ diệu trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc ta. Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng tháng Tám năm 1945 luôn là bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây